TOP bottom

Mô thức Tổ chức Xã hội Mới

Print


ĐỀ ÁN II

Sinh hoạt xã hội tập hợp vô số yếu tố cộng hưởng, luôn chi phối và kết hợp nhau một cách liên tục. Bộ mặt và hướng đi của xã hội, vì thế, cũng sẽ thay đổi không ngừng. Khi xã hội được điều hướng bởi một quan niệm lãnh đạo thích hợp, nó phát huy tối đa khả năng sáng tạo và cộng tác để phát triển sinh hoạt chung. Khi bị ức chế bởi một tập đoàn độc tài, toàn xã hội tỏ thái độ bất hợp tác và thể hiện khuynh hướng thụ hưởng, tham lam, vị kỷ… Do đó, để tái tổ chức xã hội, thành phần lãnh đạo quốc gia phải liêm chính để được nhân dân tín nhiệm, và guồng máy chánh quyền phải hữu hiệu và trong sạch để được xã hội tin tưởng. 

Việt Nam hiện đang ở một giai đoạn vừa có nhiều vấn đề đáng quan tâm song cũng vừa có nhiều yếu tố để thăng tiến nếu như được điều hướng một cách tốt đẹp. Vấn đề trở ngại lớn nhất bây giờ là làm sao giải toả được bế tắc chánh trị đang có để mọi thành phần xã hội đều có được cơ hội đóng góp vào tiến trình làm tốt hơn xã hội; trong đó, trách nhiệm hàng đầu là của các đoàn thể chánh trị và các tôn giáo có nhiều ảnh hưởng trong sinh hoạt tinh thần của quần chúng. 

Việt Nam là một đất nước có văn hóa song cũng là một dân tộc có một đặc tính cố hữu là chỉ có thể đoàn kết được khi có một lý tưởng để dấn thân phục vụ và hy sinh. Lịch sử Việt cho thấy rằng những giai đoạn hào hùng, sáng lạn nhất của dân tộc Việt thường chỉ xảy ra ở những giai đoạn đấu tranh chống ngoại xâm. Những thời thanh bình, hưng trị thì rất hiếm trong lịch sử Việt. Trong giai đoạn cận đại, lịch sử Việt Nam có nhiều điểm gây được sự kính phục của thế giới nhưng đó cũng là nỗ lực chống ngoại xâm. 

Từ nhận thức đó, muốn xây dựng một xã hội mới, Việt Nam cần được hướng về một lý tưởng thật sự gần gủi, tốt đẹp và thích hợp với truyền thống văn hóa dân tộc cũng như nguyện vọng của đại đa số quần chúng ở thời kỳ này. Lý tưởng đó là xây dựng một xã hội Dân Chủ Nhân Bản song song với tiến trình phát triển chung của đất nước. Để thực hiện lý tưởng phụng sự đó, Việt Nam cần có một cuộc cách mạng xã hội thực sự phát xuất từ các tầng lớp nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi thực tiễn của người dân và lấy tương lai của nhân dân làm cứu cánh phụng sự. 

Động lực thúc đẩy thành hình cuộc cách mạng xã hội đó phải xuất phát từ các tầng lớp trẻ có ý thức, có quan tâm sâu xa về hiện trạng và nhu cầu cấp thiết của xã hội; đồng thời cũng là thành phần có khả năng đeo đuổi thực hiện lý tưởng cao đẹp này. 

Tóm lại, xã hội Việt Nam cần phải được lột xác, cải thiện và phát triển. Muốn làm được điều đó, Việt Nam cần có một cuộc cách mạng xã hội được thực hiện với một tinh thần mới và một tâm thức mới. 

Công cuộc cách mạng xã hội đó sẽ thúc đẩy những cải cách cần thiết để nhằm tái tổ chức xã hội, và đặt định nền tảng cần thiết cho một xã hội mới, lấy Dân Chủ Nhân Bản làm tư tưởng chỉ đạo, thay thế cho những tư tưởng ngoại nhập, vá víu vay mượn từ bên ngoài. 

Khi có được một chánh quyền dân cử tự do từ cuộc Tổng Tuyển Cử, chánh quyền mới cần quan tâm thực hiện các chánh sách cấp thời cho giai đoạn chuyển tiếp, và những chánh sách ích quốc an dân trong giai đoạn tiếp nối sau đó. 

Trong chiếu hướng chuẩn bị cho tương lai đó, Đảng Vì Dân xin được trình bày một số đề nghị xét thấy cần được thực hiện trong đường lối đối nội của Việt Nam trong thời gian tới. Những đề nghị này, tất nhiên, không bao gồm toàn bộ chánh sách đối nội của quốc gia mà chỉ là gợi ý cho một số chánh sách cần được quan tâm đặc biệt.
 

Quan Niệm về Đường Lối Đối Nội Cần Có của nước Việt Nam Mới trong tương lai  

Muốn có một xã hội tốt, quốc gia cần có những chánh sách đúng đắn, kịp thời và hữu hiệu, có khả năng đáp ứng được các nhu cầu của xã hội và hướng phát triển lâu dài của đất nước. Để duy trì tiềm năng phát triển, Việt Nam phải giữ toàn vẹn lãnh thổ.

Chánh sách của quốc gia không đơn thuần chỉ là quyết định của các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, mà còn là kết quả từ những sự đấu tranh, vận động… của các tổ chức chánh trị, đoàn thể quần chúng, v.v…

Trong vai trò Lập Pháp, Hội Đồng Lập Hiến cần nghiên cứu lại các ưu điểm của Hiến Pháp VNCH, Hiếp Pháp CHXHCNVN, Hiến Pháp các quốc gia lân bang và Hiến Pháp các nước tiền tiến, để rút tỉa ưu điểm và hoàn chỉnh bản Hiến Pháp Dân Chủ mới cho Việt Nam. Hiến Pháp này không những có các điều khoản qui định đường lối lãnh đạo quốc gia, phát triển đất nước trong lâu dài mà còn phải bao gồm cả những chủ trương, chánh sách cần phải có của quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp sang thể chế dân chủ, để bảo đảm là nền tảng dân chủ được xây dựng một cách khoa học và chắc chắn. Trong trường hợp cần thiết, nên có cả sự tư vấn độc lập của một số cơ quan chuyên ngành Lập Pháp Quốc Tế. Trong vai trò Hành Pháp, chánh phủ mới cần có các biện pháp thích hợp và hữu hiệu trong giai đoạn chuyển tiếp để bảo đảm sanh mệnh của nền dân chủ mới khai sinh. Chánh phủ mới đồng thời phải cấp thời tạo dựng niềm tin cho toàn dân về sự hữu hiệu của guồng máy lãnh đạo dân chủ, được lãnh đạo bởi sự kết hợp sức mạnh và ý chí của đại diện các đảng phái, tổ chức chánh trị khác nhau. Mặt khác, sự sử dụng đúng đắn quyền hành của cơ quan Hành Pháp sẽ là một yếu tố quan trọng thể hiện tính dân chủ của thể chế mới.

Trong vai trò Tư Pháp, guồng máy tài phán công quyền sẽ phải làm gương cho mọi cơ chế quốc gia, từ trung ương xuống địa phương, bằng cách biểu hiện tinh thần liêm chánh, vô tư để thực thi công bằng xã hội. Một guồng máy Tư Pháp tốt đẹp và hữu hiệu sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc thực thi công lý, xây dựng một xã hội thực sự công bằng và nhân ái.

Điều quan trọng hơn cả là cho dù các viên chức Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp có thể là đảng viên của các tổ chức, đảng phái chánh trị nhưng vẫn phải thể hiện tinh thần đặt quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên hàng đầu.

Những Chánh Sách Cần Có Trong Giai Đoạn Phát Triển  

I. LÃNH VỰC CHÁNH TRỊ:
  1. Xã hội mới phải được xây dựng trên nền tảng xiển dương nhân bản, tôn trọng nhân quyền và thực thi nhân ái. Mọi chánh sách quốc gia phải đặt con người làm mục tiêu phục vụ hàng đầu và lớn nhất, vì con người là chủ thể của xã hội.

  2. Nhân dân phải là mục tiêu, là trọng tâm của mọi chánh sách quốc gia. Phúc lợi của toàn dân phải là mục tiêu phục vụ đầu tiên của mọi kế hoạch phát triển quốc gia và phục hưng xã hội.

  3. Chăm lo cho dân và tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để người dân tự nuôi mình là trách nhiệm của chánh quyền. Công cuộc giải phóng các tầng lớp dân nghèo khỏi sự đói kém, lạc hậu phải được xem là mục tiêu lớn nhất và hàng đầu.

  4. Dân Tộc là tư tưởng chủ đạo thích hợp nhất cho Việt Nam, vì nó phát xuất từ dân tộc, vận hành bởi dân tộc để phụng sự dân tộc. Tư Tưởng Dân Tộc cần được vận dụng trong quan niệm lãnh đạo quốc gia, điều phối xã hội và phát huy văn hoá.  

  5. Trong cơ chế dân chủ mới, chánh quyền, quân đội và công an là công cụ phục vụ quốc gia, trực thuộc quyền lãnh đạo trực tiếp của chánh phủ và chỉ thuần tuý phục vụ cho quyền lợi của đất nước, dân tộc Việt Nam. Không một cá nhân, đoàn thể, đảng phái hay liên minh chánh trị nào được phép sử dụng ba cơ cấu này để phục vụ cho quyền lợi của đoàn thể một cách riêng tư.

  6. Trong xã hội dân chủ, mọi khuynh hướng chánh trị không đi ngược lại Hiến Pháp mới và không có các hoạt động khả dĩ gây phương hại cho nhân dân, đều được tôn trọng một cách bình đẳng.

  7. Chánh quyền mới, dù được lãnh đạo bởi một đa số xuất thân từ một đảng phái nào đó, vẫn không được quyền sử dụng quyền lực lãnh đạo đang có để gây khó khăn cho sinh hoạt hiến định của các đoàn thể khác.

  8. Cải danh các địa danh thuộc miền Trung Du và Thượng Du thành Việt ngữ thuần tuý (phiên âm phải trở thành Việt ngữ).

  9. Huỷ bỏ các sắc luật, sắc lệnh bất công đã áp đặt lên các sắc tộc thiểu số đã có từ trước đến nay; phục hồi các sinh hoạt truyền thống và đáp ứng cấp thời các nguyện vọng chánh đáng của mọi sắc tộc như là một thành phần chánh thức của dân tộc Việt Nam.

  10. Bộ máy nhà nước phải đơn giản để đáp ứng kịp thời sự thay đổi của xã hội, đồng thời bộ máy nhà nước làm việc phải có hiệu quả để tránh tình trạng lãng phí nhân lực và tài lực của quốc gia.

 

II. LÃNH VỰC QUỐC PHÒNG:
  1. Thành lập một quân đội tinh nhuệ, đa năng và có khả năng di động cao để vừa bảo đảm được sự toàn vẹn của lãnh thổ, vừa có thể cắt giảm tối đa quân số sử dụng cho nhu cầu an ninh diện địa.

  2. Thực hiện qui chế “Quân Dịch Trừ Bị” để giảm thiểu quân số hiện dịch trong thời bình song có thể đáp ứng được nhu cầu quốc phòng khi cần thiết.

  3. Thiết lập một quốc lộ mới chạy dọc theo biên giới Lào-Việt Nam và Campuchia-Việt Nam để làm hàng rào chiến lược thường trực phòng thủ mạn Tây lãnh thổ Việt Nam. Đây cũng là một quốc sách di dân nội địa để giải quyết nạn nhân mãn ở các thành phố lớn, đồng thời tận dụng đất đai cho nhu cầu phát triển của nhân dân.

  4. Phối hợp với các cơ quan hữu trách của chánh phủ để thực hiện các chánh sách ngoại giao, kinh tế, giáo dục, xã hội, v.v… với các nước láng giềng để xây dựng các mối tương quan tốt đẹp và chặt chẽ, giảm thiểu tối đa nguy cơ bị đe doạ về an ninh quốc gia.

  5. Gia nhập các tổ chức quốc phòng quốc tế để tạo quan hệ tốt, vận dụng mối tương quan để củng cố chánh sách quốc phòng trong thời bình.

 

III. LÃNH VỰC KINH TẾ:
  1. Việt Nam cần có hai hệ thống kinh tế song hành. Nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cần duy trì để để tạo công ăn việc làm cho số đông dân chúng. Nền kinh tế công nghiệp nặng, kỹ thuật, thông tin, dịch vụ, v.v… sẽ dùng một lực lượng chuyên viên giỏi để làm giàu cho quốc gia.

  2. Đầu tư cấp thời vào lãnh vực xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như đường bộ, đường sắt, hải cảng, phi trường, hệ thống điện, nước, điện thoại nội địa, viễn liên và mạng lưới internet toàn cầu; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công trình đầu tư của quốc tế.

  3. Phối trí địa bàn phát triển kinh tế một cách công bằng, thực tế và khả thi để tạo điều kiện sinh sống, phát triển đồng đều cho nhân dân trên địa bàn toàn lãnh thổ. Kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia phải quan tâm đặc tính và điều kiện lao động của từng địa phương; phải tạo điều kiện phát triển thuận lợi cho địa phương, hoặc vận dụng sự ưu đãi của thiên nhiên, hoặc phải tạo dựng cơ sở để sử dụng lực lượng công nhân ở địa phương.

  4. Thiết lập “Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế Quốc Gia” với trách nhiệm nghiên cứu chiều hướng kinh tế thế giới, của khu vực các nước lân bang cũng như nền kinh tế nội địa, để cố vấn chánh phủ về các đường lối kinh tế cần có hay cần thay đổi. Đồng thời, cung ứng các giới kinh doanh, thương mãi những dữ kiện, thông tin cần thiết cho việc đầu tư, sản xuất, buôn bán hay xuất nhập cảng.

  5. Yểm trợ đặc biệt giới sản xuất nội địa để tạo điều kiện cạnh tranh với giới sản xuất ở ngoài nước; đặc biệt là ngân khoản cho vay vốn đầu tư. Hạ thấp tối đa thuế sản xuất và tiêu thụ cho các công ty phục vụ nhu cầu hàng hóa nội địa để giảm thiểu tối đa nguồn hàng nhập lậu.

  6. Giảm thuế một cách đặc biệt cho những địa phương thiếu sự ưu đãi của thiên nhiên, để hấp dẫn sự đầu tư từ trung ương và ngoại quốc. Thiết lập các trường huấn nghệ kỹ thuật để nâng cao tay nghề cho công nhân các địa phương có nhiều khó khăn.

  7. Hỗ trợ nông dân qua mạng lưới bán rẻ phân bón và hạt giống, với chương trình trả góp hay trả chậm cuối mùa. Cung cấp các thông tin chuyên môn liên quan đến lãnh vực trồng trọt, sản xuất tại từng địa phương để nâng cao thành quả sản xuất, giới hạn sự sản xuất thặng dư gây nguy hại cho nền kinh tế địa phương.

  8. Thiết lập hệ thống trường Quản Trị Kinh Doanh và Đại học Trung Cấp Chuyên Ngành ở mỗi tỉnh để tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn cho thành phần chuyên viên địa phương và khả năng tiếp nhận dự án kinh tế từ trung ương hoặc nước ngoài.

  9. Soạn thảo Luật Đầu Tư và chánh sách thuế khóa hợp lý, có khả năng thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế nội địa và đầu tư, mậu dịch từ các công ty ở nước ngoài.

  10. Nghiêm cấm và nghiêm trị các hành vi làm hàng giả, buôn lậu, đầu cơ tích trữ…

  11. Nghiêm cấm và nghiêm trị các hành động bóc lột sức lao động hay có hành vi xâm phạm nhân phẩm công nhân Việt Nam của các công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam.

  12. Soạn thảo bộ luật lao động tương đồng với luật lao động ở các nước phát triển để bảo đảm quyền lợi của thành phần công nhân.

  13. Soạn thảo một bộ luật ngân hàng để khuyến khích sự đầu tư của nhân dân, đồng thời tạo ra thêm điều kiện để phát triển lãnh vực kinh doanh với ngoại quốc.

  14. Thiết lập mộ trục lộ Đông-Tây giáp ranh biên giới Việt-Trung để phát triển kinh tế khu vực cận biên.

 

IV. LÃNH VỰC VĂN HOÁ:

Văn hóa không phải chỉ là những di sản tinh thần mang tính cách truyền thống hay những di vật lâu đời của các thế hệ trước mà văn hóa còn thể hiện qua cách suy nghĩ, cách sống, cách ứng xử, cách sinh hoạt… của một dân tộc. Mặt khác, văn hóa không có nghĩa chỉ là hình ảnh của quá khứ. Sinh hoạt, sáng tạo mọi mặt ở hiện tại vẫn thể hiện bản sắc và trình độ văn hóa của một dân tộc; và nó sẽ trở thành một phần của nguồn văn hóa truyền thống ở mai sau. Do đó, Chánh Phủ cần quan tâm một cách sâu xa và có những chánh sách bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa một cách nghiêm chỉnh và thường xuyên.

  1. Lập chánh sách bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa của quốc gia; lập chương trình giới thiệu văn hóa Việt Nam với cộng đồng thế giới.

  2. Phục hồi các sinh hoạt văn hóa truyền thống, đặc biệt là trên các hệ thống thông tin, báo chí quốc gia.

  3. Tục bản các tác phẩm biểu dương bản sắc văn hóa nước nhà, tài trợ các công trình nghiên cứu và phát huy văn hóa nước nhà một cách đặc sắc.

  4. Khích lệ những sáng tạo mới có khả năng đóng góp vào nguồn văn hóa của dân tộc, từ mặt tinh thần đến vật chất.

  5. Tuyên dương và tài trợ các hoạt động bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc, từ cấp trung ương đến địa phương.

  6. Nghiêm cấm và nghiêm trị các hoạt động thương mại mang tính chất khiêu dâm, đồi truỵ hay cổ võ, khích động bạo lực.

  7. Tiếp nhận và bổ sung những cải tiến thanh tao để nền văn hóa nước nhà mỗi ngày một thêm phong phú, song vẫn giữ được bản sắc dân tộc.

 

V. LÃNH VỰC GIÁO DỤC:

Dân trí là chìa khóa giải toả những bế tắc hiện hữu, xoá bỏ tận gốc nghịch cảnh đói nghèo, lạc hậu và mở ra cánh cửa tươi sáng của tương lai. Vì vậy, nâng cao dân trí phải là quốc sách hàng đầu của nước ta. Trình độ dân trí cao sẽ là yếu tố bảo đảm dân sinh, dân quyền, nhân quyền và các quyền tự do căn bản khác.  

  1. Cưỡng bách giáo dục đến hết bậc Trung Học để nâng cao trình độ dân trí căn bản, tạo điều kiện mở rộng môi trường huấn nghệ trung cấp.

  2. Lập hệ thống giáo dục công lập miễn phí lên đến hết bậc Đại Học để khuyến khích sự theo đuổi học vấn của các tầng lớp trẻ.

  3. Thực hiện các chương trình giáo dục phổ thông trên hệ thống truyền hình, truyền thanh và báo chí; để cập nhật và phát triển kiến thức của các tầng lớp quần chúng lao động không có điều kiện thuận lợi để học hành ở nhà trường.

  4. Trí thức là hàng ngũ tiên phong cho công cuộc dân chủ hóa xã hội và phát triển quốc gia. Vì vậy, chánh phủ cần đãi ngộ, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tầng lớp chuyên viên, trí thức ở trong nước có điều kiện đóng góp một cách cụ thể vào các chương trình phục vụ dân sinh và phát triển đất nước. Chánh phủ cũng cần khuyến khích và trọng dụng nhân tài có tâm huyết từ nước ngoài tình nguyện về giúp dân, giúp nước.

  5. Thiết lập các chương trình hướng dẫn quần chúng về các lãnh vực phát triển dân trí, cải thiện dân sinh, thực thi dân quyền, cũng như sự cần thiết của việc bảo tồn và phát huy văn hoá.

  6. Ưu đãi đặc biệt thành phần giáo chức, đặc biệt là thành phần giáo viên Tiểu và Trung học phục vụ ở những vùng hẻo lánh, xa xôi.

  7. Thiết lập các chương trình học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo; khuyến khích sự cầu tiến ở tuổi trẻ trên con đường học vấn.

  8. Bảo trợ thực hiện các phim, sách thể hiện lịch sử, văn hóa Việt Nam.

  9. Thực hiện một bộ phận nghiên cứu toàn bộ lịch sử cận đại của Việt Nam từ năm 1954 đến 2005.

 

VI. LÃNH VỰC XÃ HỘI:

Phục vụ nhân dân và tổ quốc là sứ mạng thiêng liêng của những người yêu dân, thương nước. Do đó, các công tác thiện nguyện, xã hội nhằm giúp đỡ cho dân nghèo, đặc biệt là trẻ em mồ côi, người già yếu, neo đơn, tật nguyền hay nạn nhân thiên tai, bão lụt… phải được chánh phủ nhiệt tình yểm trợ bằng những chánh sách cụ thể, thường xuyên và lâu dài.

Phụ nữ là thành phần nền tảng của gia đình Việt Nam, nên cần được quan tâm yểm trợ một cách đặc biệt. Vì vậy, các chánh sách, chương trình nhằm tạo điều kiện phát triển cho các giới phụ nữ; đặc biệt là xây dựng quyền sinh hoạt bình đẳng của phái nữ trong các chức năng xã hội và gia đình cần được chánh phủ thực sự quan tâm, bảo vệ, và có chánh sách trợ giúp cụ thể trong lâu dài.

  1. Thiết lập chánh sách giáo dục gia đình và thực hiện một cách thường xuyên, sâu rộng để mọi tầng lớp phụ nữ hiểu rõ được trách nhiệm và quyền lợi trong gia đình cũng như xã hội; giảm thiểu tình trạng bị ngược đãi, cô lập, lạm dụng và phát triển vai trò của phụ nữ trong sinh hoạt xã hội.

  2. Thực hiện các chương trình trợ giúp đặc biệt về mặt y tế, tài chánh, tâm lý và xã hội cho nạn nhân những sự bạo hành, hiếp dâm, ngược đãi, hoặc có hoàn cảnh khó khăn.

  3. Thiết lập các chánh sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là với tình trạng lạm dụng tình dục, mãi dâm vị thành niên và bóc lột lao động. Nghiêm cấm và nghiêm trị các hành vi xâm phạm trẻ em dưới mọi hình thức.

  4. Yểm trợ thường xuyên các hoạt động xã hội, đặc biệt là do sự quản lý của các cơ sở tôn giáo.

  5. Phát triển các Trung Tâm Dưỡng Lão ở địa phương để chăm sóc người già neo đơn.

  6. Lập chương trình huấn nghệ miễn phí -- mỗi tỉnh một trường, gồm các ngành nghề thông dụng, ngắn hạn.

  7. Ủng hộ chánh sách huấn nghệ và làm việc có thù lao cho tù nhân dài hạn.

  8. Nghiêm trị các phạm nhân mất nhân tính và có hành vi làm phương hại nghiêm trọng đến xã hội.

  9. Nghiêm trị các thành phần người ngoại quốc bất hảo có hành vi lạm dụng tình dục đối với người Việt Nam; hay những người Việt Nam có hành vi cấu kết với người ngoại quốc để thực hiện những việc đồi phong bại tục.

 

VII. LÃNH VỰC Y TẾ:
  1. Lập chánh sách y tế miễn phí cho dân nghèo, qua một hệ thống cơ sở y tế công cộng từ trung ương đến cấp phường xã ở địa phương.

  2. Lập chánh sách ưu đãi đặc biệt thành phần cán bộ y tế các cấp, để khuyến khích sự tham gia phục vụ quần chúng của các tầng lớp chuyên viên y tế.

  3. Lập chương trình Giáo dục Y tế Thường thức để quảng bá các kiến thức phổ thông cho quần chúng về vệ sinh phòng ngừa và những thông tin cần thiết liên quan đến kế hoạch bảo vệ và phát triển sức khoẻ của Bộ Y Tế.

 

VIII. LÃNH VỰC TÔN GIÁO:
  1. Phục hồi trọn vẹn quyền tự do tín ngưỡng và sinh hoạt tôn giáo theo tinh thần bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Nuyền .

  2. Phát huy Đạo Thờ Ông Bà như là một tôn giáo tự nhiên của dân tộc và một phần của bản sắc văn hoá, để làm nền tảng tinh thần bên cạnh sinh hoạt tâm linh của các tôn giáo khác.

  3. Hiến Pháp mới cần qui định các điều khoản cụ thể để giúp các tôn giáo, và cơ sở liên hệ, có điều kiện đóng góp xây dựng xã hội và đất nước một cách cụ thể, làm gương cho các thành phần dân tộc khác; nghiêm cấm và nghiêm trị các hành vi lạm dụng tôn giáo cho mục tiêu chánh trị, kinh tế và những lãnh vực có khuynh hướng làm mất ổn định xã hội.

  4. Phối hợp chặt chẻ với các tôn giáo để phát triển các sinh hoạt văn hoá, xã hội và giáo dục.

  5. Yểm trợ việc thành lập các tu viện và các chương trình đào tạo tu sĩ cho các tôn giáo để tăng cường nhân tố phục vụ xã hội trong mặt tinh thần.

 

IX. LÃNH VỰC SẮC TỘC:

Dân tộc Việt Nam là một tập hợp nhiều sắc tộc có cùng chung lịch sử, sống cùng chung một lãnh thổ và có cùng chung một nhu cầu tồn tại lẫn phát triển trong tương lai. Vì vậy, quyền lợi và bổn phận của các tập thể sắc tộc thiểu số cũng bình đẳng như sắc tộc Kinh.

  1. Ban hành các chánh sách ưu đãi dành cho các sắc tộc thiểu số; đặc biệt là lãnh vực giáo dục, kinh tế, xã hội.

  2. tạo mọi điều kiện thuận lợi để các công dân gốc sắc tộc thiểu số được phát triển một cách bình đẳng với các sắc tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

  3. Thiết lập chương trình giáo dục đặc biệt cho từng cộng đồng sắc tộc thiểu số, bảo đảm quyền được bảo tồn văn hóa và sinh hoạt đặc thù của mỗi sắc tộc.

 

X. LÃNH VỰC MÔI TRƯỜNG:

 Bảo vệ môi trường (đất, nước và không khí) là một trong những quốc sách hàng đầu của quốc gia với sự tham gia của toàn dân.

  1. Chánh phủ có nhiệm vụ soạn thảo các điều lệ và trợ giúp Quốc hội soạn thảo các bộ luật bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn của quốc gia, thi hành nghiêm chỉnh các luật lệ bảo vệ môi trường, và quan trọng hơn hết, tạo điều kiện thuận lợi để luật lệ bảo vệ môi trường được thực thi một cách có hiệu quả cao nhất.

  2. Luật lệ bảo vệ môi trường đặt nền tảng trên nguyên tắc “phòng ngừa ô nhiễm, khuyến khích, và khen thưởng” chứ không phải “tẩy xóa ô nhiễm, cưỡng bức, và trừng phạt.”

  3. Việc tống khứ chất thải (rắn, lỏng, khí) từ các khu đô thị và kỹ nghệ và việc quản lý các hoá chất độc hại dùng trong kỹ nghệ và nông nghiệp (kể cả phân bón) là hai mục tiêu hàng đầu trong việc bảo vệ môi trường. 

  4. Thiết lập Phân khoa Môi trường tại các đại học và soạn thảo một kế hoạch nhằm khuyến khích sinh viên theo học để đào tạo chuyên viên bảo vệ môi trường cần thiết cho quốc gia.

  5. Người dân có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các luật lệ bảo vệ môi trường dưới sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn.  Kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân được nâng cao qua công tác giáo dục phổ thông ở bậc Tiểu và Trung học và qua các chương trình giáo dục trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

  6. Tranh thủ sự trợ giúp, hợp tác, và tạo điều kiện dễ dàng và thuận tiện cho các cơ quan, tổ chức hoặc chuyên viên môi trường quốc tế trong lãnh vực bảo vệ và giáo dục môi trường.

 

XI: LÃNH VỰC NGUỒN NƯỚC:

Nguồn nước mặt, nước ngầm, và nước biển được xem là tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của quốc gia và được đặc biệt bảo vệ về phẩm lẫn về lượng.

  1. Phẩm chất của nguồn nước được duy trì ở một tiêu chuẩn cao nhất.

  2.  Việc sử dụng nguồn nước được phối hợp với lãnh vực môi trường và được thực hiện theo kế hoạch được phê chuẩn.  Việc khai thác nguồn nước được nghiên cứu cẩn thận cho từng vùng, từng lưu vực hoặc liên lưu vực và mang lại lợi ích tối đa mà không có hoặc có rất ít ảnh hưởng đối với môi trường.

  3.  Kế hoạch sử dụng hoặc điều hòa nước mặt được soạn thảo trên nguyên tắc “phù hợp với điều kiện thiên nhiên, tránh làm thay đổi tình trạng thủy học” của dòng nước.

  4. Việc khai thác nước ngầm không được vượt quá trữ lượng hoặc có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nguồn nước khác hay gây hiện tượng lún đất.

  5. Việc khai thác các nguồn nước quốc tế (sông Mekong và sông Hồng) được thương thảo với các quốc gia liên hệ và các cơ quan và tổ chức chuyên môn quốc tế trong tinh thần bình đẳng và hợp tác.  Chánh phủ duyệt xét tất cả các dự án đã đang và sẽ thực hiện trong toàn vùng hoặc lưu vực để bảo đảm rằng lợi và hại (nếu có) của việc sử dụng nguồn nước được chia sẻ một cách công bằng và hợp lý giữa các quốc gia liên hệ. 

 

Quan Niệm về Đường Lối Đối Ngoại Cần Có của nước Việt Nam Mới trong tương lai

Nước Việt Nam Mới cần xây dựng chánh sách ngoại giao trên tinh thần độc lập về chủ quyền, trung lập về ngoại giao và liên lập về kinh tế. Độc lập về chủ quyền để giữ danh dự cho quốc gia; trung lập về ngoại giao để giữ an ninh cho quốc gia; và liên lập về kinh tế để giúp phát triển quốc gia.

  1. Việt Nam phải hoàn toàn độc lập về chủ quyền. Chánh phủ mới phải có chủ trương phủ nhận giá trị các hiệp định, hiệp ước, văn kiện, hợp đồng… do nhà nước CHXHCNVN đã ký kết với quốc tế song xét thấy có nội dung xâm phạm tới quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.

  2. Việt Nam phải là một quốc gia trung lập về ngoại giao. Chánh phủ mới cần phải giao hảo tốt và giữ tư thế trung lập về ngoại giao với các quốc gia thân hữu trong cộng đồng thế giới; đặc biệt tôn trọng chủ quyền và quan tâm giao hảo với các cường quốc có quan hệ chặt chẽ với Việt Nam cũng như các quốc gia láng giềng thuộc khối ASEAN.

  3. Việt Nam sẽ là một nước có chủ trương liên lập về kinh tế. Các chánh sách phát triển kinh tế nội địa phải thích ứng và có khả năng tiến triển song hành với kế hoạch kinh tế đối ngoại, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế quốc gia một cách đồng đều và vững chắc.

  4. Cộng đồng kiều bào người Việt Nam ở nước ngoài cũng là một thành phần dân tộc có các quyền lợi bình đẳng như công dân Việt Nam, không phân biệt quốc tịch đang có. Tập thể người Việt hải ngoại phải được quyền tham dự một cách chánh thức vào các công trình phục vụ xã hội, phát triển quốc gia như là những công dân Việt Nam ở trong nước. Ngược lại, chánh quyền cũng phải có chánh sách đối xử và dành quyền lợi bình đẳng cho tất cả kiều bào Việt Nam, kể cả thế hệ thứ hai về sau như đại khối đồng bào trong nước.

  5. Các cơ quan phi chánh phủ, hiệp hội thiện nguyện, v.v… là đối tượng kết thân của quốc gia. Chánh phủ mới phải có các chánh sách thích hợp và hữu hiệu để tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam trao đổi văn hoá, giáo dục, xã hội, v.v… với nhân dân các nước bạn qua các hiệp hội phi chánh phủ (NGO's). Đây là nhịp cầu ít tốn kém và hữu hiệu nhất để tạo sự cảm thông giữa Việt Nam và các dân tộc bạn, đồng thời cũng là một phương thức vận động hậu thuẫn các nguồn viện trợ quốc tế.

  6. Ủng hộ chủ trương tiếp tục công nhận và thực thi các hiệp định, hiệp ước, hợp đồng, v.v… không đi ngược lại chủ quyền và lợi ích của đất nước, nhân dân Việt Nam. Chánh phủ mới nên có chủ trương bảo vệ tối đa tất cả công trình vật chất và tài sản của người và công ty nước ngoài trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

  7. Các cộng đồng và đoàn thể người Việt ở nước ngoài là các vệ tinh ngoại giao của quốc gia. Chánh phủ mới cần thiết lập các cơ sở ngoại giao bán chánh thức ở những vùng có đông đảo kiều bào Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Sự bảo trợ của các hiệp hội chuyên môn cho cơ quan cùng ngành nghề, của các hội đồng hương cho địa phương nguyên quán đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc tái thiết đất nước và bang giao với cộng đồng người bản xứ.

  8. Lập chánh sách vận động sự bảo trợ tinh thần và kỹ thuật của các nước bạn cho các tỉnh, thành Việt Nam, để tạo điều kiện tìm kiếm hậu thuẫn quốc tế cho các tỉnh, thành địa phương.

  9. Nỗ lực thực hiện chánh sách “thành phố kết nghĩa” giữa các thành phố, thị xã với các thành phố lớn trên thế giới để làm nhịp cầu trao đổi văn hoá, kinh tế, ngoại giao và các chương trình trợ giúp thiện nguyện quốc tế.

  10. Thiết lập các hiệp ước an ninh, quốc phòng để tăng cường nền an ninh chung cho các quốc gia trong khu vực.

  11. Lập chánh sách đặc biệt ưu đãi các du học sinh ngoại quốc.

  12. Thiết lập nhiều văn phòng Thông Tin – Liên Lạc ở các tiểu bang, thành phố lớn trên thế giới.

  13. Lập chương trình cung cấp sách báo Việt Nam một cách đều đặn cho các cơ quan quốc tế, công quyền, trường đại học, hiệp hội bất vụ lợi, v.v… để tạo dựng sự cảm thông và hậu thuẫn cho Việt Nam.

  14. Phát triển các chương trình trao đổi du học sinh với các trường đại học lớn trên thế giới.

  15. Thực hiện chánh sách hồi hương phát triển quốc gia dành cho các thành phần chuyên viên, trí thức gốc Việt Nam ở nước ngoài.

­