TOP bottom

Một thái độ cần có với Đảng Cộng sản Việt Nam

Print

Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thay hình, đổi dạng nhiều lần qua bao nhiêu chiêu bài và bộ mặt khác nhau.   Khi có nhu cầu lớn, đảng CSVN không ngần  ngại thay đổi guồng máy, danh xưng, cách nói và thái độ… để đạt cho được mục tiêu chiến lược đã đặt ra.  Sự biến thân khá tinh vi này đã giúp cho họ có được cơ hội phỉnh gạt thế giới, đồng bào và hãm hại những người Quốc Gia yêu nước trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.  Trong những năm tháng gần đây, đảng CSVN đã có dấu hiệu biến thân thêm một lần nữa.  Sự biến thân này chắc chắn không ngoài mục đích mua thời gian củng cố quyền lực trước sự tấn công của các phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ; và cũng để nhằm chuẩn bị cho một chiến lược khuynh loát quyền lực lãnh đạo quốc gia, khi mà họ không còn có thể độc quyền lãnh đạo được nữa.

Chúng ta cần phải nhìn vấn đề quan yếu này như thế nào để dân tộc ta sẽ không phải trở thành nạn nhân của đảng CSVN thêm một lần nữa?

Đảng CSVN, sau hơn 50 năm thống trị với một chủ trương sắt máu, đã cho ra đời “chính sách cởi mở” vào năm 1986 để cấp thời giảm thiểu sự suy thoái trầm trọng về uy tín và quyền lãnh đạo của đảng.  Một số sự nới lỏng, dù là hời hợt và bất nhất, trong các chính sách di trú, Việt kiều, kinh doanh, đi lại… cũng đã tạm thời làm giảm đi cường độ bất mãn trong quần chúng, mang lại cho đảng CSVN ít nhiều thời gian để duy trì sự thống trị độc tài cố hữu.  Nhưng cũng cùng lúc đó, những ai có óc nhận xét và phân tích sẽ thấy được rằng những thay đổi này chỉ là những phản ứng nhất thời nhằm cứu vãn tình hình suy kiệt trầm trọng ở toàn bộ lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.  Nhận định này được chứng minh bằng thực tế bởi tính chất “tiền hậu bất nhất” của các chính sách khác nhau, đã được ban hành, điều chỉnh hay hủy bỏ một cách rất phổ thông trong những năm qua. Bằng chứng hùng hồn nhất của sự thất bại vẫn là thực trạng toàn diện của xã hội Việt Nam hôm nay: băng hoại, suy đồi, bất ổn và mất định hướng.

Những cố gắng vá víu của đảng CSVN kể từ ngày Liên Xô và các nước Cộng sản Đông Âu bị sụp đổ, thật ra, đã không có một giá trị hay ảnh hưởng quan trọng nào cả nếu như người Việt chúng ta, ở cả trong và ngoài nước, không có được một lòng vị tha to lớn.  Là một đảng được huấn luyện thuần thục bởi hệ thống Cộng sản quốc tế, đảng CSVN có thừa khôn ngoan và kinh nghiệm để mưu sinh thoát hiểm.  Với cộng đồng quốc tế, đảng CSVN dư hiểu rằng tất cả mọi sự bang giao giữa các quốc gia trên thế giới này đều được đặt trên căn bản tương quan quyền lợi.  Các thái độ chống đối, làm ngơ hay ủng hộ cũng chỉ vì mục tiêu quyền lợi.  Và do đó, sự kiện xâm lăng miền Nam, xé bỏ các hiệp ước hòa bình, xâm phạm nhân quyền của quá khứ sẽ không thể là những ngăn trở lớn cho những toan tính hiệp thương hay bang giao mới mẻ.  Nói khác hơn, cộng đồng quốc tế rất dễ và sẵn sàng quên những tội lỗi, sai lầm đã qua để sẵn sàng hợp tác khi có nhu cầu thỏa đáng quyền lợi mới.

Với toàn dân Việt Nam, đảng CSVN thừa hiểu rằng dân tộc Việt vốn tính hiếu hòa, vị tha và cũng khá mau quên.  Cho nên, chiến thuật “lấn hai bước lùi một bước” vẫn có thể được nhiều người dễ tính chấp nhận. Thái độ này giải thích lý do tại sao bây giờ vẫn có người phân vân không biết  “… là có nên giải thể chế độ CSVN hay không, hay cứ để cho họ từ từ cởi mở và trước hay sau gì thì tình hình cũng sẽ khả quan hơn.”  Mặt khác, nhiều người cũng do dự trong việc đấu tranh bởi ảnh hưởng của một lập luận được đảng CSVN vận dụng tích cực trong hơn thập niên qua là “…không khéo thì sự sụp đổ của chế độ CSVN cũng sẽ tạo nên những khủng hoảng trầm trọng như đã và đang xảy ra ở Nga Sô.”  Đây là hai đòn tâm lý vô cùng lợi hại mà chúng ta cần nhìn rõ hơn để không mắc mưu tuyên truyền của đảng CSVN.

Trước nhất, đảng CSVN đã có hơn nửa thế kỷ để chứng minh sự chân thành đối với quốc gia, dân tộc, nếu như họ có thiện chí.  Tiếc rằng thực tế lịch sử của hơn 60 năm qua chỉ là hình ảnh của một chuỗi dài lừa bịp.

Việc đánh đuổi thực dân Pháp, tuy là do danh nghĩa Việt-Minh nhưng thực tế thì đó là kết quả hi sinh công lao, xương máu của những người Việt Nam yêu nước.  Những chiến sĩ Việt-Minh tham dự công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm này đã chiến đấu vì sự độc lập của dân, của nước chớ không phải vì lý tưởng Cộng sản.  Ngay cả giai đoạn chiến tranh “Quốc-Cộng”, đại đa số bộ đội CSVN vào miền Nam chiến đấu cũng chỉ vì lầm tưởng rằng “…miền Nam đang bị đế quốc Mỹ đô hộ và đồng bào ở trong Nam bị áp bức, bóc lột tàn tệ.”  Lời thệ nguyện “Sinh Bắc tử Nam” để giải phóng miền Nam và cứu đồng bào trong Nam có phải chăng là động lực của tinh thần dân tộc thuần túy hơn là ảnh hưởng của Cộng sản, một lý thuyết luôn phủ nhận vai trò của cả tổ quốc và dân tộc?

Nhưng quan trọng và rõ ràng hơn hết là thực trạng sinh họat của toàn dân từ Nam chí Bắc từ ngày Cộng sản nắm chính quyền cho đến nay.  Trước năm 1975, đảng CSVN ngụy biện với dân chúng miền Bắc rằng “… vì nhà nước phải ưu tiên dồn sức cho cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam nên toàn dân phải thắt lưng buộc bụng!”  Nhưng suốt hơn hai mươi bốn năm qua, tuy chiến tranh bom đạn đã chấm dứt nhưng cuộc sống của đại đa số đồng bào ở mọi miền đất nước vẫn không hề được thăng tiến.  Cho đến nay, ngoại trừ số cán bộ, đảng viên có quyền thế và một số nhỏ có thân nhân ở nước ngoài, toàn dân Việt Nam vẫn ở trong tình trạng đói kém, đất nước Việt Nam vẫn còn là một trong số các quốc gia nghèo kém nhất thế giới.  Điều đáng buồn nhất là sau mấy mươi năm bị Cộng sản trị, xã hội Việt Nam đã bị băng hoại  trầm trọng, giá trị đạo đức bị suy đồi, và càng ngày thì nhân phẩm của con người càng bị chà đạp một cách thường xuyên.  Lý lẽ nào giải thích được tình trạng chỉ riêng một cán bộ tham nhũng, ăn cắp của công trong vài năm đã bằng lợi tức của hàng trăm ngàn người lao động trong cùng thời gian đó?  Đảng CSVN giải thích như thế nào về sự hình thành của tầng lớp tư bản mới  gồm những đảng viên cao cấp, cán bộ có quyền thế với nhà lầu, xe hơi trong khi đại đa số dân chúng vẫn sống nghèo nàn trong những mái nhà tranh rách nát?  Đảng CSVN trả lời làm sao trước sự kiện hàng hàng lớp lớp con ông cháu cha của chế độ được ra nước ngoài học hành, du hí trong khi hàng chục triệu trẻ em không có cơm đủ ăn, không có áo đủ ấm, không được đến trường ở tuổi cấp sách và không có tiền mua thuốc men khi bị ốm đau?

Với thảm trạng nêu trên, thực tế cho thấy rằng đảng Cộng sản Việt Nam không xứng đáng trong vai trò lãnh đạo đất nước và nhu cầu giải thể chế độ độc tài này phải được xem là điều kiện tiên quyết cho công cuộc kiến thiết đất nước trước mắt.  Nói cách khác, đảng CSVN đã cố tình bỏ đi rất nhiều cơ hội quý báu mà họ đã nang nhiên cướp lấy trong lịch sử.  Suốt mấy mươi năm qua, toàn dân Việt Nam đã có đủ kinh nghiệm để không bị mắc lừa CSVN thêm một lần nữa.  Bởi vậy, cho dù đảng CSVN nhân nhượng phần nào trước áp lực của các đoàn thể tranh đấu thì không phải vậy mà họ có thể tiếp tục độc quyền lãnh đạo.  Dân tộc Việt Nam đã chịu đựng và kiên nhẫn quá nhiều.  Đảng CSVN rõ ràng đã bất xứng và bất lực thì họ phải trao trả quyền lãnh đạo đất nước và xã hội lại cho toàn dân.

Về lập luận cho rằng “…nếu chế độ CSVN sụp đổ thì tình hình đất nước có thể sẽ trở nên khủng hoảng trầm trọng như đã và đang xảy ra ở Nga Sô.”  thì chúng ta không thấy có gì phải lo âu.  Việt Nam hoàn toàn khác hẳn với Liên Xô trước ngày sụp đổ.  Khi nước đàn anh CS Liên Xô bị sụp đổ vào năm 1989, toàn dân liên bang này hoàn toàn không có kinh nghiệm nào về sinh hoạt của nền kinh tế thị trường.  Suốt 70 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa chuyên chính, các nước Cộng sản trong Liên bang Xô Viết đã tập trung toàn lực cho mục tiêu thống trị toàn cầu bằng võ lực; cố tình bỏ quên viẹc phát triển kinh tế; cho nên sau khi thay đổi họ đã không có đưọc nền tảng kiến thức thích hợp và đầy đủ để nhanh chóng khôi phục tiềm lực quốc gia và đẩy mạnh công cuộc kiến thiết đất nước họ.  Một số nước CS Đông Âu cũng đã lâm vào hoàn cảnh tương tự, dù rằng ở mức độ nhẹ hơn.  Ngược lại, Việt Nam đã có một quá trình sinh họat khá dài với hệ thống kinh tế thị trường trước ngày miền Nam thất thủ.  Sinh họat này chỉ bị tạm đình chỉ khoảng 10 năm thì lại bùng lên trở lại, dù rằng đảng CSVN vẫn cố tình kiểm soát và làm lệch hướng phát triển tự nhiên.  Đặc biệt nhất là Việt Nam đang có một mảng dân tộc khá lớn đang sinh sống ở nhiều quốc gia tiền tiến, trong số đó có hàng trăm ngàn chuyên viên cao cấp trong các ngành có thể ứng dụng vào công cuộc kiến thiết nước nhà khi xã hội đã được tự do thực sự.  Với tiềm lực tài chánh và chất xám của cộng đồng hải ngoại này, nước Việt Nam ta chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội vươn lên một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Tóm lại, đảng Cộng sản sẽ không thể tiếp tục là đoàn thể duy nhất nắm giữ chính quyền vì thế giới ngày nay tiến bộ được là nhờ kết quả của sự dân chủ, tự do.  Nhờ không bị áp bức bởi các chế độ độc tài, độc đảng, các xã hội tự do đã có cơ hội và môi trường ganh đua phát triển một cách tự nhiên.  Vậy thì, những người lãnh đạo đảng CSVN hôm nay chỉ còn có một sự lựa chọn duy nhất là trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho toàn dân. Sự ngoan cố, tham quyền cố vị của thiểu số này sẽ tự nó là những khối chì nặng trĩu trên con thuyền Cộng sản đã mục nát trước vô số làn sóng đấu tranh vì dân chủ, tự do. 

Với những người thật tâm yêu quê hương, dân tộc mà vì hoàn cảnh lịch sử, phải phục vụ trong guồng máy đảng và nhà nước Cộng sản, thì thái độ và hành động đóng góp cho công cuộc giải thể chế độ đảng trị độc tài sẽ là một nghĩa cử mang giá trị của sổ thông hành cách mạng cho phép họ trở lại với toàn dân.

Với chúng ta, thái độ và con đường duy nhất là phải giải thể cho bằng được chế độ CSVN vì chỉ có như vậy thì đất nước và dân tộc mới có thể vươn lên được từ những vũng lầy của quá khứ.  Chỉ có như vậy thì mai này mọi người dân Việt Nam mới có thể ngẫng cao đầu hãnh diện là người Việt Nam của thời đại mới./.

TD_174