TOP bottom

Thư Ngỏ gửi Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Print

Nhân ngày Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đến nói chuyện với đồng bào Việt Nam ở Santa Ana, CA (1/1996) 

Vào khoảng tháng 10 năm 1980, tôi ngạc nhiên đến thích thú khi được dịp đọc tập thơ "Bản chúc thư của một người Việt Nam" (sau đó được phổ biến qua tên "Tiếng vọng từ đáy vực") được Thi sĩ khéo léo chuyển ra hải ngoại. Những bài thơ không tên (nhà xuất bản dùng những chữ đầu của mỗi bài để làm tựa) đó đã lan rộng và được đồng bào hải ngoại tiếp nhận một cách nồng nhiệt như tìm được một tín hiệu thân thương. Tôi không có cơ hội nào để biết được Thi sĩ là ai nhưng cũng như nhiều người khác, tôi ngưỡng mộ khí khái và lòng can đảm phi thường của Thi sĩ. Mấy năm sau, tôi ngạc nhiên song rất vui mừng khi nghe tin Thi sĩ được tạm tha. Mấy tuần gần đây tôi ngạc nhiên hơn khi được biết Thi sĩ đã t hóat khỏi "đáy vực". Song có lẽ ngạc nhiên nhất là được đọc bài trả lời của Thi sĩ với Nhà văn Nhật Tiến, đăng trên nhật báo Người Việt ngày 30.11.1995.

Thưa Thi sĩ,

Tôi viết thư góp ý này không nhằm bênh vực nhà văn Nhật Tiến, nhóm Hợp Lưu hay chủ trương "Hòa giải - hòa hợp" của nhóm Thông Luận vì họ đã tự có uy tín và cơ quan truyền thông riêng để làm việc này. Nếu có sự trùng hợp thì đó là lẽ tự nhiên như chúng ta phải bảo vệ những điều mà chúng ta tin là lẽ phải. Tôi cũng xin được nhấn mạnh là tôi không có ý đánh phá, chống đối Thi sĩ vì tôi vẫn rất quý mến, ngưỡng mộ lòng khẳng khái của Thi sĩ. Tôi phải nêu lên ý kiến là vì nghĩ rằng có vài vấn đề liên hệ cần được thảo luận một cách sâu rộng hơn; và tôi trình bày ý kiến của mình một cách công khai vì những vấn đề này là ưu tư chung của nhiều người chứ không phải là chuyện cá nhân giữa chúng ta. Tôi hi vọng Thi sĩ sẽ có thể tiếp nhận những ý kiến này một cách tự nhiên, thoải mái và vui vẻ vì chính những sự đối thoại xây dựng tương tự thế này có thể sẽ góp phần trở thành nền tảng của một xã hội tự do, dân chủ -một xã hội mà tất cả chúng ta đều mong muốn cho đất nước Việt Nam yêu dấu. Trong trường hợp có sự bất đồng, rất mong Thi sĩ sẽ xem đó như là hệ quả đương nhiên của tiến trình sinh hoạt dân chủ -một sinh hoạt mà xã hội Việt Nam hiện giờ không có được. Từ đó, chúng ta có thể cùng đồng ý với nhau rằng mỗi một cá thể trong xã hội đều có quyền có quan điểm, niềm tin và nhận xét riêng; nếu phải đi đến tranh luận thì chỉ là nhằm để chứng minh, thuyết phục chứ không phải buộc tội hay lên án. Đó là tinh thần căn bản của Tự Do và Dân chủ, chắc Thi sĩ cũng có thể đồng ý được như vậy?

Thưa Thi sĩ,

Trước hết, tôi xin phép không bàn đến những vấn đề lớn như văn học, nghệ thuật... trong thư góp ý này vì tuổi đời tôi không đủ lớn để có kinh nghiệm như là nhân chứng trong toàn chuỗi quá trình biến thiên của văn học, nghệ thuật trong mấy mươi năm qua; và vì tôi cũng không phải là một nhà văn, nhà báo hay một nhân sĩ trong cộng đồng. Tôi mạo muội gửi thư góp ý này đến Thi sĩ với tư cách một thanh niên Việt Nam yêu nước, và vì hai lý do:

  • Thứ nhất, tôi tin rằng đã đến lúc những người dân bình thường cần phải chính thức nói lên ý kiến, suy nghĩ và nguyện vọng của mình về những vấn đề liên quan đến quốc gia, dân tộc mà đặc biệt nhất là vấn đề mâu thuẫn chủ yếu ở nội tại dân tộc.
  • Thứ hai, tôi nhận thấy có trách nhiệm góp ý kiến với Thi sĩ về những nhận định liên quan đến công tác từ thiện ở Việt Nam.

Song song với những ý kiến này, tôi cũng xin được mạn phép nhân dịp này chia sẻ một số suy nghĩ, ưu tư và trăn trở về hiện tình đất nước; trước và với Thi sĩ, kế đến là với bạn đọc khắp nơi. Với những vấn đề liên quan đến đất nước và con người Việt Nam, tuy sanh sau đẻ muộn nhưng tôi cũng có cơ hội được biết và chứng kiến một phần giai đoạn lịch sử cận đại. Nhìn lại suốt giòng lịch sử Việt, tôi có cảm nghĩ rằng nửa thế kỷ vừa qua là một giai đoạn nhiễu nhương, phức tạp nhất. Mấy mươi năm qua dân tộc Việt đã phải đối phó với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với những đe dọa truyền kiếp cũ là họa xâm lược từ Bắc phương và tranh chấp với các nước láng giềng mạn Tây. Khao khát được độc lập từ các âm mưu xâm lược của các cường quốc Tây phương và phát-xít Nhật cộng với ước mơ giải phóng xã hội khỏi chế độ phong kiến đã đưa dân tộc ta vào một cuộc chiến tranh ủy nhiệm tàn khốc. Cuối cùng thì mọi người đều nhìn thấy rằng cả dân tộc -từ Ải Nam Quan xuống mũi Cà Mau- đều là nạn nhân của những chiêu bài hoa mỹ. Gần ba triệu mạng người nằm xuống với hàng chục triệu khác bị thương tật và cả xứ sở bị rách nát mọi bề trong bao nhiêu năm tang thương, thù hận chỉ đem đến được kết quả duy nhất là sự thống nhất đất nước và một nghiệm chứng thực tế phủ phàng từ các chủ thuyết ngoại lai vay mượn của người.

Nhưng biến cố 30-4-1975 chưa đủ làm thức tỉnh toàn bộ người Việt Nam ta. Di chứng lịch sử đã tiếp tục phân hóa, hủy hoại tiềm lực dân tộc -một sức mạnh đã bị mọi phía lợi dụng và đang trên đà bị mòn mỏi. Gần như hai mươi năm qua những người chiến thắng và những người thua cuộc hầu như chỉ nhìn thấy cục diện nước nhà theo chủ quan của mình. Hai phía này cũng đều muốn giải quyết tiếp tục những mâu thuẫn cũ bằng những quan điểm cũ và tinh thần cũ. Ngay cả trong thời gian những năm gần đây khi Dân Chủ, Tự Do được xiển dương tột bực thì tập thể người Việt tị nạïn và đại khối đồng bào trong nước vẫn chưa có được cơ hội nào làm chủ lấy đất nước của mình!?? Xã hội ở Việt Nam thì bát nháo; sinh hoạt cộng đồng thì đến nay vẫn lay hoay ở vấn đề làm sao để đoàn kết với nhau! Sự bát nháo và phân hóa đó không phải là mâu thuẫn Quốc-Cộng, cũng không hẳn là giữa đại khối nhân dân và đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) mà là giữa người Việt chúng ta với nhau. Hiện tượng đó có thể thấy một phần qua sự dẫn chứng cụ thể của Thi sĩ về những mâu thuẫn hiện hữu của xã hội Việt Nam như"trong gia đình giữa vợ chồng con cái cha mẹ anh em, giữa xóm giềng, làng này sang làng kia, giữa tỉnh này tỉnh kia, người Nam người Bắc, thành thị thôn quê, diện vượt biển, di cư,v.v...".

Tôi nêu lên một vài nhận định chủ quan nêu trên chỉ nhằm mục đích gợi ý rằng vấn đề mâu thuẫn chủ yếu là ở nội tại dân tộc chúng ta chứ không phải chỉ là giữa dân tộc và tập quyền CSVN. Chúng ta có thể thấy lập luận này cụ thể hơn bằng cách thử loại trừ yếu tố CSVN ra khỏi guồng máy lãnh đạo chính quyền để thấy rằng trật tự, đạo đức, tâm lý, tập quán và hướng đi của xã hội sẽ không phút chốc trở thành những mẫu mực mà mọi người mong muốn. Sự độc tài đảng trị của đảng CSVN là chướng ngại lớn nhất nhưng rõ ràng không là yếu tố trở ngại duy nhất bởi lẽ không phải chỉ có Cộng sản mới là độc tài đảng trị, và độc tài đảng trị cũng chỉ là một trong rất nhiều căn bệnh nguy hiểm trầm kha của nhân loại ngày nay.

Ở trường hợp Việt Nam, với xu hướng chung của thế giới ngày nay và đà thay đổi nhanh chóng của xã hội, đảng Cộng sản chỉ còn hai sự chọn lựa duy nhất là phải đổi thay kịp thời để tồn tại, hoặc là bị đào thải bằng chính những lời kêu gọi, những khẩu hiệu, những phong trào mà họ đã vận động thực hiện trong hơn hai mươi năm trước đây để nhằm đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ảnh hưởng của các ý thức hệ phi thực tiễn cũ đã cáo chung, phần còn lại chỉ là dư âm và xác vụn! Những vấn đề nhức nhối ngày nay là làm sao có công bằng xã hội, có áo ấm cơm no, có tự do dân chủ. Muốn có những thứ đó, môi trường xã hội cần phải được chuẩn bị lại từ nền móng. Những gốc rễ của định kiến, hận thù, chia rẽ, man trá, bất công... cần phải được đào bứng ra khỏi tâm thức con người -bản thể của xã hội- trước khi một mô thức xã hội mới được ươm trồng, nuôi dưỡng. Tự do sẽ không thể nào có, hoặc có thật, nếu như vẫn còn một thiểu số lạm dụng danh nghĩa, quyền hành và tên tuổi của hiện tại và quá khứ để bắt người khác phải chấp nhận ý kiến, quan điểm của mình. Dân chủ sẽ không bao giờ được phục hồi nếu như xã hội Việt Nam chúng ta chưa có được tập quán suy nghĩ và hành động thể hiện đúng mức sự tương nhượng và tương kính cần thiết phải có trong một xã hội hài hòa. Và quan trọng hơn hết là dân chủ sẽ không thể nào nở hoa sinh trái được nếu như đại đa số nhân dân nghèo Việt Nam (hơn 80% là công, nông nhân với trình độ học vấn quân bình là chỉ vừa hơn lớp 5/12) không được có cơ hội và môi trường thích hợp để góp phần dựng xây dân chủ.

Nói cách khác, mâu thuẫn chỉ được hóa giải khi những người có thiện chí dám dấn thân nỗ lực tìm kiếm và xây dựng những mối tương đồng còn có được. Và muốn có tương đồng, mọi ngưòi cần phải đến với nhau bằng một tinh thần khách quan, xây dựng và bao dung hơn nữa. Thiện chí đó có thể được tạm hiểu qua nỗ lực "hòa giải hòa hợp dân tộc" -một trong nhiều nỗ lực khác nhau, đã và đang cố gắng làm sao đó để người Việt chúng ta không cần phải đổ máu xương và nước mắt nữa để tìm kiếm một mẫu số chung cho toàn dân tộc. Đó có thể là "hòa giải hòa hợp dân tộc" hay bất cứ chủ trương đại đoàn kết nào. Điều quan yếu là nó phải có phạm trù vận động đủ lớn để dung chứa cả một dân tộc: không phân biệt Bắc Nam, trong nước-ngoài nước, đảng gì, quá khứ thế nào, lớn lên ở đâu, nhân sinh quan và chính kiến ra sao. Mấu chốt của vấn đề này có lẽ nên đặt ở nội dung hơn là tính cách từ ngữ. Nếu hiểu rằng "hòa giải hòa hợp " là một nỗ lực nhằm hóa giải mâu thuẫn để tạo nền tảng cho sự hài hòa của xã hội thì rõ ràng đó là một nhu cầu. Vấn đề khác biệt chỉ là những nhóm chủ trương chọn đối tượng vận động là ai, với phạm trù nào. Qui mô nhỏ thì giải quyết những ngộ nhận, dị biệt nhỏ; vận động gầm vóc hơn thì có thể góp phần giải quyết những vấn đề trọng đại hơn. Thi sĩ nghĩ xem có hại gì đâu khi những nhóm thế lực tiêu biểu hòa giải hòa hợp được với nhau để tránh cảnh người Việt lại tương tàn, cấu xé, giết hại lẫn nhau? Nếu vận động đó hợp tình hợp lý và khả thi, nó sẽ nhận được một kết quả tương xứng; ngược lại, nó sẽ bị đào thải một cách tự nhiên vì chính sự không tưởng của nó. Nếu có ai lợi dụng danh nghĩa này để làm công cụ cho một giải pháp chia chác quyền bính bất chính nhằm tiếp tục đè đầu cỡi cổ nhân dân thì sẽ bị nhân dân đánh đổ bằng sức mạnh từ những lá phiếu của chính họ. Tôi vững tin là đồng bào mình bây giờ, sau bao nhiêu năm bị ăn bánh vẽ, đã trưởng thành hơn rất nhiều trong ý thức và nhận định chính trị. Nếu như có cách nào đó để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để tìm hiểu tâm tình, ý kiến và nguyện vọng của người Việt Nam, gồm ở trong và cả ngoài nước, rất có thể là kết quả thu nhận được sẽ không giống với những nhận định thường thấy trên báo chí Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Tóm lại, trước công cuộc đại đoàn kết dân tộc, mọi người mọi nhóm đều có quyền đưa ra quan điểm và cách làm riêng của mình. Mọi chủ trương đều căn cứ trên nhận định chủ quan, và vì vậy không thể vội vã cho rằng cái này, cái kia là sai hay đúng. Với môi trường rộng mở của thông tin, trí tuệ đồng bào mình bây giờ đã có điều kiện để phân biệt được sự khác nhau giữa thực chất và giả tạo, giữa chân thành và lừa dối, giữa lý tưởng mông lung và thực tế, cũng như giữa động lực do cảm tính và thúc đẩy bởi tình yêu tổ quốc. Toàn dân sẽ khách quan chọn lựa những ai và thứ gì thích hợp với nhu cầu và nguyện vọng của họ nhất trong một ngày không xa. Những gì lỗi thời tất nhiên sẽ bị chi phối bởi luật đào thải. Với những vấn đề công-tội trong giai đoạn lịch sử vừa qua, mai hậu chắc chắn cũng sẽ có những phán xét công bằng, hợp tình, hợp lý. Những thiện chí mới sẽ có thể tạo được niềm tin mới nhưng chắc chắn một điều là sự kiện lịch sử sẽ vẫn là sự kiện lịch sử. Thời đại truyền thông ngày nay không còn cho phép bất cứ thế lực nào có thể tô son điểm phấn hay trát trấu bôi tro lịch sử được nữa!

Thưa Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện,

Kế đến, tôi xin phép được có một số ý kiến về vấn đề cứu trợ xã hội cho các đồng bào kém may mắn ở quê nhà

Theo sự trình bày của Thi sĩ, tôi rất tiếc và phải xin lỗi để nói rằng tôi có cảm nghĩ là Thi sĩ chưa tham dự nhiều những sinh hoạt loại này ở quê nhà, bao gồm các hoạt động trợ giúp xã hội do người trong nước và các tổ chức quốc tế tổ chức, ít nhất là trong khoảng 3 năm trở lại đây. Hoặc giả Thi sĩ chủ trương là dân sống trong chế độ nào là trách nhiệm của chế độ đó, như tại sao phải cứu đói khi "đảng xuất cảng 2 triệu tấn gạo mỗi năm"; giúp đở người nghèo khổ làm chi khi có "những ông Sư công an đi xe Dream 3,000 đôla, đi Toyota"; hoặc "Một cái sân tennis của ông Võ Văn Kiệt cũng đủ mua quần áo, giày dép cho tất cả các cụ"? Những điều đó có thể là ai cũng biết nhưng đưa thực tế đó ra để trách cứ suông thì dân nghèo cũng chẳng được ban cho thêm kí gạo nào! Đối với lãnh vực cứu trợ này, có lẽ chỉ có hai vấn đề chính là NÊN hay KHÔNG NÊN trợ giúp trong giai đoạn này, và thực tế nỗ lực đó ra sao? Vấn đề đầu là quan điểm, vấn đề thứ hai là dữ kiện. Nên giúp hay không là tùy quan điểm của mỗi người, không quyết định nào là đúng hay sai. Nhưng khi đưa dữ kiện ra để thảo luận, những dữ kiện đó phải mang tính chất khách quan và chính xác để giữ tính chất công bằng trong mặt truyền thông. Với tư cách là người vận động và đồng sáng lập hội thiện nguyện SAP-VN (còn được biết đến qua tên Green Cross) tôi xin đứng ở tư cách cá nhân được phép góp ý kiến với Thi sĩ về một vài vấn đề liên hệ.

Cho đến nay, Việt Nam chúng ta vẫn còn là một trong những quốc gia bị liệt vào hạng nghèo nhất trên thế giới, với lợi tức bình quân hằng năm chỉ vào khoảng 200 mỹ kim. Mức bình quân đó thật ra không trình bày được là ở nhiều tỉnh miền Trung và Bắc nước ta có rất nhiều hộ gia đình chưa bao giờ có được lợi tức hơn 50 mỹ kim một năm. Có vô số gia đình mà bận tâm hàng ngày vẫn còn là phần cơm cho ngày mai, ngày mốt!

Với hậu quả chiến tranh của gần nửa thế kỷ cộng với các chính sách quản lý kinh tế sai lầm của nhà cầm quyền CSVN trong hơn một thập niên (sau ngày 30-4-1975) sức lực của đồng bào ta gần như bị kiệt quệ. Đọc những bài thơ nói lên cảnh khổ, đói mà Thi sĩ đã mục kích trước đây, tôi liên tưởng đến những thân phận con người đã sống với một điều kiện vật chất còn tồi tệ hơn là những sinh vật khác trong điều kiện môi trường bình thường trên trái đất. Chỉ hôm nay thôi, khi đọc lại những câu:

" Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ

Tôi còn đương đau khổ nhìn theo

Thì nhanh như một đàn heo

Bốn, năm đầu bạc dẩm trèo lên nhau

Bốc ăn một lúc sạch làu

Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau"

Tôi cảm thấy lòng quặn đau khôn xiết! Ở xứ sở này người ta mất thời giờ khá nhiều để tính toán tiết giảm những món ăn nhiều nhiệt lượng thì ở quê hương chúng ta vẫn còn có cảnh những cụ già mất nhân cách chỉ vì một bát cơm thô! Tôi cũng không làm sao ngăn được cảm giác xót xa chạy dài trong từng tế bào mạch máu khi chia sẻ với Thi sĩ những câu thơ tả một số trẻ thơ bất hạnh Việt Nam:

"Giờ thấm thoát mười xuân đã lớn,

Mặt mũi vêu vao, tính tình hung tợn

Mở miệng ra là chửi bới chẳng chừa ai

Có thể giết người vì củ sắn củ khoai!"

Bài thơ này đã được tròn trèm 30 tuổi nhưng những hình ảnh này vẫn còn hiện hữu ít nhiều, đâu đó ở Việt Nam. Báo chí trong nước hàng ngày vẫn nêu ra bao nhiêu cảnh thương tâm, bao nhiêu trường hợp bức xúc. Là người Việt Nam chưa quên nguồn cội, ai lại không cảm thấy đớn đau, tự ái và nhục nhã!??

Thưa Thi sĩ,

Cũng vì tâm tình đó, đúng bốn năm trước đây tôi đã quyết định đứng ra vận động và cùng với bốn anh chị em trẻ khác thành lập một tổ chức thiện nguyện SAP-VN, chủ trương giúp cho một số đồng bào, đặc biệt là trẻ em khuyết tật và nghèo khổ ở quê nhà. Dĩ nhiên, cá nhân tôi cũng không tránh khỏi sự dằn co trong lý trí như Thi sĩ đã đặt ra. Tôi không thích chủ nghĩa và chế độ Cộng sản kể từ ngày tôi biết nó là gì. Đến nay tôi vẫn không thay đổi thái độ đó dù xã hội Việt Nam bây giờ không còn hẳn là xã hội của 15, 20 năm trước. Nhưng tôi nghĩ rằng tình đồng bào phải được cảm nhận độc lập từ những chính kiến chính trị nhất thời. Đồng bào nghèo khổ, bệnh tật đâu có tội tình và trách nhiệm gì để phải gánh chịu hậu quả của những tranh chấp chính trị tiếm danh họ! Tôi quan niệm rằng lãnh đạo chính trị là thực hiện trách nhiệm quản lý và chăm do cho đồng bào, đất nước, chứ không phải chỉ là vấn đề cai trị người dân. Vì vậy, mặc dù việc lãnh đạo đang bị đảng CSVN độc quyền nhưng nếu có cách nào chia sẻ, trợ giúp được cho những người kém may mắn hơn, tôi nghĩ là chúng ta phải sẵn sàng thực hiện. Nếu những người rời bỏ đất nước ra đi là nhằm để chứng minh với lương tâm thế giới rằng CSVN bất nhân thì tại sao không trở về góp sức với những cá nhân, đoàn thể ở quê nhà giúp đồng bào của mình để chứng tỏ thế nào là tinh thần nhân bản? Những đồng bào, học sinh, trẻ em... nghèo khổ, bệnh tật đáng thương trên khắp nẻo đường đất nước cần được chia sẻ, giúp đở để t hóat khỏi cảnh khốn khó, hơn là dùng cảnh khổ của họ để chứng minh rằng chế độ CS bất nhân, bất lực. Nếu Thi sĩ quan niệm khác hơn về vấn đề này, tôi vẫn xin tôn trọng. Tôi tôn trọng sự khác biệt, bất đồng như trân trọng sự tương đồng vì tin rằng chỉ có thái độ đó mới thể hiện được tinh thần đa nguyên đúng nghĩa. Còn chuyện lợi hay hại, làm sao và cách nào chúng ta có thểå đo lường được? "Lợi gần hại xa" hay hại gần lợi xa là tùy góc cạnh quan điểm của mỗi người. Sự chia sẻ của các cá nhân, đoàn thể hảo tâm ở hải ngoại và trong nước có thể chỉ vì một lý do đơn giản là tình đồng bào, tình con người với nhau. Nhà nước CSVN có lợi về mặt tuyên truyền hay được nhẹ gánh một phần nào là lẽ tất nhiên. Không một chế độ nào cho phép bất cứ một ai tổ chức bất cứ việc gì bất lợi cho họ, kể cả các chế độ không Cộng sản. Câu hỏi của mỗi chúng ta là trong hoàn cảnh Việt Nam mình như vậy, chúng ta có chấp nhận "vì tình hơn lý" để một số đồng bào được đở khổ hơn, hay chăng? Thái độ nào cũng là vấn đề quan điểm; và là quan điểm thì sẽ rất khó để quyết đoán là đúng hay sai.

Đối với nhận định của Thi sĩ về nỗ lực của Bác sĩ Phan Minh Hiển ở Pháp, của các hội từ thiện quốc tế (gồm cả tổ chức của người Việt Nam ở nước ngoài) và những cá nhân, đoàn thể công, tư ở Việt Nam, tôi e rằng Thi sĩ đã kết luận có phần chủ quan và vội vã. Tôi không có liên hệ công tác cứu trợ với tổ chức thiện nguyện của Bác sĩ Hiển nhưng tôi tin là nỗ lực này rất cần thiết. Trong xã hội xứ ta bây giờ những người lành lặn còn phải vất vả lắm mới có tạm đủ miếng ăn manh áo thì huống hồ chi những người bị cụt tay, mất chân. Nếu có điểm cần phải góp ý với Bác sĩ Hiển thì tôi chỉ xin đề nghị là hãy bỏ tôn chỉ giúp cho cựu chiến binh VNCH đi vì không cần thiết bởi, như nội dung lời giải thích của hội mà tôi được biết, những người bộ đội CS đã có nhà nước CSVN lo thì họ đâu cần thêm xe lăn, chân giả, nạng gỗ hay giày nẹp nữa! Vả lại, nếu làm công tác nhân đạo mà còn đem tiêu chuẩn lý lịch quá khứ ra xét đoán thì sẽ giảm bớt ý nghĩa đi, chưa kể là vô tình tạo ra sự cách biệt giữa những người bất hạnh này. Thương binh VNCH hay CSVN đều là nạn nhân của cuộc chiến phi lý vừa qua. Còn việc Thi sĩ hỏi rằng "Ai biết chắc là đã đến tay họ, và đến tay bao nhiêu người, khi cộng sản dàn dựng vở rất công phu, chu đáo?" thì tôi xin mượn lời giải thích hơi khôi hài của một người bạn như sau: "...những đồ trợ giúp đó đâu phải tiền mặt, thức ăn hay tivi, tủ lạnh gì đâu mà họ có thể lấy được! Không lẽ nhà nước CSVN cưỡng bức bộ đội cắt chân, tay để nhận lãnh quà hay sao?"

Theo sự hiểu biết của tôi, tổ chức của Bác sĩ Hiển đã thu nhận hồ sơ từng người và trực tiếp giải quyết từng đợt với những chứng từ kiểm chứng rõ ràng. Tôi nghĩ Thi sĩ cũng nên liên hệ với tổ chức này để xem ngọn ngành ra sao?

Đối với các lãnh vực trợ giúp còn lại, sự kiện gây khó khăn, lợi dụng, chiếm đoạt... không phải là không có xảy ra nhưng cũng không có nghĩa là đa số nỗ lực thiện nguyện đều là sự "dàn cảnh dựng vở rất công phu chu đáo" như Thi sĩ đã nói. Ở đâu cũng có người tốt và người xấu. Guồng máy nhà cầm quyền CS có tệ đến đâu chăng nữa thì cũng có một số cán bộ nào đó còn lương tâm vì họ cũng là người Việt Nam và cũng có thể là những người đó cũng đã được "soi sáng thức tỉnh" rồi (như trường hợp Thi sĩ đã nêu ra). Quan trọng hơn nữa là bên cạnh hoạt động của các cơ quan, các đoàn thể phụ nữ, thanh niên của chính quyền là các đoàn thể dân lập, hoặc của các nhóm chuyên viên y tế, thiện nguyện, hoặc của các chùa, nhà thờ, giáo xứ, v.v... Không có bằng chứng nào cho thấy họ bị cưỡng bức phải làm công tác xã hội. Trong một xã hội mà nhan nhãn là cảnh tranh ăn giành sống từng ngày lại có những người bỏ thì giờ quý báu cuối tuần đi giúp đồng bào nghèo khổ thì chắc chắn là họ đã nhìn thấy được ý nghĩa và phần kết quả đáng khích lệ từ những nỗ lực đó. Và một điểm quan trọng khác ít người để ý là cho đến nay, tổng số ngân khoản đóng góp của đồng bào hải ngoại gửi về vẫn còn là một mức độ thấp so với sự đóng góp thường xuyên của số đồng bào hảo tâm ở ngay tại quê nhà. Ai có tìm hiểu tại chỗ và chú ý nhiều sẽ thấy được điều đó. Vì vậy, nỗ lực trợ giúp từ hải ngoại mang giá trị tinh thần nhiều hơn là vật chất.

Đối với các cá nhân và tổ chức thiện nguyện Việt Nam ở hải ngoại về, việc tổ chức tương đối khó khăn và chậm vì các nhà cầm quyền CSVN e dè hơn. Tuy vậy, trong những năm gần đây đã có khá đông đồng bào âm thầm thực hiện được nhiều sự trợ giúp trực tiếp ở quê quán của họ, hoặc ở những nơi chốn, cơ sở được người giúp trước đó giới thiệu là đàng hoàng. Các tổ chức từ thiện gốc Việt Nam cũng phải nương theo sự giới thiệu của thân nhân, bạn hữu và các tổ chức quen biết khác để chọn đối tượng và địa bàn trợ giúp. Với không khí sinh hoạt chính trị tương đối còn tế nhị hiện nay, những nỗ lực này chưa được công khai cho lắm tuy nhiên những ai đã thực hiện rồi chắc chắn đã có nhận định không giống như Thi sĩ đã nêu ra.

Trong mặt phân phối, tôi hoàn toàn đồng ý với Thi sĩ là có khá nhiều sự kiện thâm lạm, thiếu đứng đắn trong vấn đề quản lý và phân phối quà viện trợ quốc tế ở Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã nêu lên một số trường hợp lớn; điển hình như vụ Sở Lao động Thương Binh Xã hội TP.HCM lợi dụng, khuynh loát một cách trầm trọng ngân quỹ viện trợ của quốc tế. Tôi cũng thấy rất rõ là nhà cầm quyền CSVN tuy nói cởi mở nhưng vẫn hết sức dè dặt và nghi ngờ thiện chí của các cá nhân, đoàn thể xã hội trong và ngoài nước. Nhưng thực trạng đó không có nghĩa là toàn bộ hay đa số các hoạt động cứu trợ xã hội ở Việt Nam đều bị lợi dụng, hay chỉ là chuyện ảo tưởng, thiếu thực tế. Các tổ chức thiện nguyện ở đây đều phải chứng minh với chính quyền Hoa kỳ về mục đích và kết quả những khoản chi thu của tổ chức. Chỉ việc tổ chức những công tác khác hơn điều lệ (nộp cho chính quyền khi xin phép) cũng đã là vấn đề phạm pháp, huống hồ chi đem về k hóan trắng cho nhà nước CSVN mà không có cơ sở nào là những khoản tiền đó đã được sử dụng hợp lý, có kết quả tương xứng hay không. Về thực tế công tác, tôi cũng như nhiều anh chị em thành viên và mạnh thường quân đã có nhiều dịp về tổ chức trợ giúp cho một số đồng bào kém may mắn ở quê nhà. Với kinh nghiệm đó, tôi xin được phép KHÔNG đồng ý với Thi sĩ về nhận định cho rằng "đem đồ cứu trợ giúp nạn nhân lũ lụt đều bị vào tù, đồ cứu trợ bị tịch thu" hay "... phải đút lót để nhận được đồ cứu trợ" và "những em được học bổng đều phải thuộc loại hoạt động tích cực cho đảng".

Nói như vậy không có nghĩa là tôi công nhận guồng máy chính quyền hiện nay ở Việt Nam là hoàn toàn lành mạnh, đứng đắn và biết lo cho dân. Nếu được như vậy thì quả là phúc lớn cho dân tộc rồi, đâu còn gì để cãi nhau nữa! Nhưng khách quan mà nói thì tôi cho là việc thực hiện các công tác cứu trợ, xã hội ở Việt Nam là tương đối khả thi và đang trên đà dễ dãi hơn 4, 5 năm trước nhiều. Khó khăn thì lúc nào cũng có nhưng với sự kiên nhẫn, khéo léo và minh bạch, nỗ lực "lá lành đùm lá rách" có thể thực hiện được.

Tôi mạnh dạn nêu lên điểm này vì trách nhiệm của một người từng đại diện nhận sự đóng góp và tổ chức công tác này cho hàng ngàn đồng bào hảo tâm ở khắp nơi trong thời gian qua; trong đó có khá nhiều người đã về Việt Nam cùng tham dự sinh hoạt này với chúng tôi, hoặc đã âm thầm tìm hiểu tại chỗ (các cơ sở ở Việt Nam) trước khi tiếp tục tiếp tay với hội. Tôi rất vững tin ở những điều mình nói vì tôi đã từng tiếp xúc và phối hợp trong nhiều lần với nhiều cá nhân, nhóm, đoàn thể ở Việt Nam, trong đó có các sư, các linh mục ở quê nhà. Tôi không thể nghĩ được rằng những người tôi đã gặp đều là mù quáng, đều bị lường gạt, hoặc chủ tâm lường gạt. Và hơn hết, tôi dám nói không do dự vì chính anh chị em chúng tôi và một số mạnh thường quân đã có nhiều dịp chứng kiến cảnh các em khuyết tật được khám bệnh, lọc bệnh, giải phẫu và trị liệu đến khi tương đối lành lặn. Tôi không nghĩ được là tiền trợ giúp đi được ngã nào khác khi chính chúng tôi trực tiếp tổ chức và xuất chi cho từng ca bệnh sau khi mổ xong.

Về mặt cứu trợ, chính bản thân tôi cũng đã có kinh nghiệm trực tiếp tổ chức trợ giúp cho đồng bào nạn nhân lũ lụt ở tỉnh Phú Yên. Thành thật mà nói thì họ vừa giúp tổ chức (lo phần pháp lý như giấy đi đường, xin phép chính quyền địa phương trước) nhưng cũng vừa theo dõi xem nhóm có tuyên truyền, làm gì khác hơn cứu trợ hay không. Chúng tôi không ngạc nhiên và phản đối thái độ này vì mục đích duy nhất chỉ là làm sao có được điều kiện giúp đở một số đồng bào bớt phần khốn khó. Họ làm nhiệm vụ của họ, chúng ta làm phận sự của riêng mình. Phát gạo, mền, quần áo, thuốc tiêu chảy, cảm cúm... trong ba ngày liền không gặp sự khó khăn nào ngoài việc di chuyển xe gạo qua những đoạn đường bị nước mưa làm hư hại nặng. Công an thường phục có theo đó nhưng chúng tôi lại an tâm vì như vậy là đở sợ cướp cạn dọc đường. Những chuyến tổ chức khác giúp Kiên Giang, Đồng Tháp... do các anh chị trong nhóm công tác xã hội dân lập ở Sàigòn phụ trách giùm cũng không gặp cảnh như Thi sĩ nói là phải"đút lót để nhận được đồ cứu trợ". Còn việc một Thượng tọa tổ chức cứu trợ bị giam giữ, tôi nghe nói đến nhưng không rõ nguyên nhân uẩn khúc ra sao. Tôi tin rằng chính quyền CSVN không dại dột, ngu xuẩn đến độ có hành động phản chính trị -một thứ mà họ rất quan tâm hiện nay. Cũng rất có thể là vị Thượng tọa này gặp rắc rối về mặt pháp lý, có nghĩa là không xin phép tổ chức trước, hoặc di chuyển ngoài lộ trình đã được các cơ quan an ninh địa phương cho phép?

Đối với lãnh vực giáo dục, tôi đồng ý hoàn toàn với Thi sĩ là có hàng triệu trẻ em chưa bao giờ đến trường, hàng triệu học sinh nghèo khác chưa được trợ giúp từ các chương trình học bổng. Đó là thực tế nhưng không có nghĩa là "những em được học bổng đều phải thuộc loại hoạt động tích cực cho đảng". Tôi được biết là con em cán bộ cao cấp chiếm một tỷ lệ lớn trong các suất học bổng bậc đại học và hậu đại học do các tổ chức quốc tế thực hiện. Dĩ nhiên các tổ chức này biết điều đó nhưng họ không có sự lựa chọn nào khác trong hoàn cảnh này và phải chấp nhận một sự tương nhượng để giúp một số em xuất sắc khác có cơ hội học hành. Cũng có thể họ tin tưởng ở một điều như Thi sĩ đã nói là "..Sự hiểu biết là mồ chôn Cộng sản". Đối với chúng tôi, tiêu chuẩn xét chọn không có phần lý lịch, khác với tiêu chuẩn tuyển chọn của nhà cầm quyền CSVN trước đây mà chúng ta thường chê trách. Khi tiêu chuẩn là gia đình nghèo, có điểm cao và hạnh kiểm tốt là xem như thích hợp với yêu cầu. Những em nào hội đủ tiêu chuẩn cao nhất sẽ được đưa vào danh sách xin bảo trợ. Một tiêu chuẩn khác của chúng tôi là ưu tiên một cho ngành Sư phạm -một ngành quyết định cho tương lai những thế hệ tiếp nối vì kiến thức và dân trí sẽ là chìa khóa của hầu hết vấn đề trước mắt.

Nói cho cùng, giả như hàng loạt nỗ lực cứu trợ cho đồng bào kém may mắn ở quê nhà đều không có kết quả cụ thể và tương xứng thì tôi nghĩ chúng ta cũng không lấy đó làm buồn hay ân hận. Bởi lẽ, ít nhất qua môi trường sinh hoạt đó, đồng bào hải ngoại và quốc nội cũng còn có một nỗ lực chung là chia sẻ và chăm lo cho những đồng bào kém may mắn hơn mình. Điều đáng sợ nhất không phải là bị CSVN lợi dụng mà là nhìn đồng bào mình không còn biết yêu thương, đùm bọc, trợ giúp lẫn nhau; chỉ đối với nhau bằng thái độ nghi ngờ, dã trá, hay ích kỷ, vong thân.

Với các tổ chức quốc tế, họ luôn luôn cảnh giác và chỉ thực hiện các chương trình trợ giúp từng phần, nhiệm thu đến đâu phát triển đến đó. Thất thóat dĩ nhiên không thể nào tránh khỏi, tuy nhiên họ cũng chỉ trông đợi ở một mức kết quả tương đối như đã dự trù. Nói chung, nhu cầu ở Việt Nam mênh mông nên họ cũng biết khôn và chỉ làm việc với nơi nào tương đối có thiện chí và cho ra kết quả khá nhất.

Thưa Thi sĩ,

Nói đến chuyện đồng bào và đất nước là nói đến hàng ngàn vấn đề nhức nhối khác nhau, trong đó có không ít vấn đề đang hoành hành như những chứng ung thư độc hại. Làm sao chúng ta có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp và tế nhị này nếu như chúng ta không có một giải pháp dung hòa nào đó để tránh gây thêm những đổ vỡ, tị hiềm, nghi ngờ và thù địch. Chuyện dài Việt Nam nói hoài cũng không hết, chỉ mong là chúng ta không chỉ nói mà còn chịu nghe lẫn nhau, sẵn sàng "chín bỏ làm mười" bao dung hơn, nhân nhượng hơn. Bất đồng ý kiến không có nghĩa là không đoàn kết, ngược lại chính đoàn kết là một tổng hợp hài hòa giữa những tương đồng và bất đồng có tương nhượng hợp lý. Thời thế ngày nay đã khác hơn xưa rất nhiều: những kẻ nào đi ngược lại giòng tiến hóa của xã hội, nhân loại và nguyện vọng của số đông sẽ bị chính số đông và bánh xe lịch sử đào thải. Tôi vững tin rằng ngày mai của tổ quốc và đồng bào sẽ sáng tỏ hơn vì người dân bây giờ không còn "ấu trĩ, thờ ơ và u tối" như Thi sĩ đã nhận định vào hai mươi năm trước!

Cuối cùng, tôi xin được phép ghi lại bài thơ "Sẽ có một ngày" mà tôi thích nhất trong tập "Lời chúc thư của một người Việt Nam" do Thi sĩ viết vào năm 1971 và được nhà xuất bản Văn nghệ Tiền phong phát hành năm 1980:

Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Đảng

Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng

Oan khiên!

Về với miếu đường, mồ mả, gia tiên.

Mấy chục năm trời bức bách lãng quên

Bao hận thù độc địa dấy lên

Theo hương khói êm lan, tan về cao rộng

Tất cả bị lùa qua cơn ác mộng

Kẻ lọc lừa, kẻ bạo lực xô chân

Sống sót về đây an nhờ phúc phận

Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân

Đứng bên nhau trên mất mát, quây quần

Kẻ bùi ngùi, hối hận Kẻ bồi hồi kính cẩn

Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

Khai sáng kỷ nguyên tả trắng thắng cơ hồng!

Tiếng sáo mục đồng êm ả

Tình quê tha thiết ngân nga

Thay tiếng Tiến quân ca và Quốc tế ca

Là tiếng sáo diều trên bầu trời xanh bao la!

Xin chân thành cảm ơn Thi sĩ đã cho tôi một hình ảnh tương lai hết sức hài hòa, êm ấm của dân tộc mình.

Một lần nữa chúc mừng Thi sĩ thóat khỏi "đáy vực" và rất mong sẽ có ngày cùng trở lại quê nhà trong một tâm tình và nguyện ước chung.

Rất mong!

Trân trọng,

Nguyễn Công Bằng